TÌM HIỂU QUAN ĐIỂM CỦA EMILE DURKHEIM VỀ HIỆN TƯỢNG TỘI PHẠM

Published on 04/06,2011 Bài đã đăng Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 1(273) năm 2011
TÌM HIỂU QUAN ĐIỂM CỦA EMILE DURKHEIM VỀ HIỆN TƯỢNG TỘI PHẠM

ÉMILE DURKHEIM (1858- 1917)

Trong lĩnh vực nghiên cứu về hiện tượng tội phạm ở Việt Nam, để có một khung phân tích cho hiện tượng tội phạm, điều cần thiết là phải có một hệ thống các khái niệm, lý luận làm tiêu chí cho việc thu thập các dữ liệu. Mặc dù, trong tác phẩm “Những quy tắc của phương pháp xã hội học”(1895), Emile Durkheim đề cập tới hiện tượng tội phạm như là một ví dụ minh họa cho những quy tắc của phương pháp xã hội học, tuy nhiên có thể thấy những quan điểm của ông về tội phạm là một cách tiếp cận mới vào cuối thế kỷ 19 và vẫn đóng vai trò quan trọng cho những nghiên cứu về tội phạm hiện nay.

Bài viết “Tìm hiểu quan điểm của Emile Durkheim về hiện tượng tội phạm” được thực hiện nhằm đạt mục tiêu là làm rõ quan điểm của Emile Durkheim về hiện tượng tội phạm với mong muốn đóng góp, dù là nhỏ bé, cho sự hoàn thiện lý thuyết về hiện tượng tội phạm ở Việt Nam.

Bài viết được thực hiện dựa trên nguồn tài liệu chủ yếu là bản dịch chương 3 trong tác phẩm “Những quy tắc của phương pháp xã hội học” của Emile Durkheim (Emile Durkheim; Les règles de la méthode sociologique; 1985; Presses Universitaires de France, Ire édition; 1937; 6e édition “Quadrige”: juin 1992, 149 pages) do TS. Trần Hữu Quang dịch (Tài liệu tham khảo môn Xã hội học Pháp quyền, dành cho Lớp Cao học Xã hội học khóa 2005 – Trường Đại học KHXH & NV – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh). Ngoài ra tác giả còn sưu tầm và phân tích một số tài liệu khác có liên quan trong quá trình thực hiện bài viết.

  1. 1.                  Hiện tượng tội phạm là hiện tượng bình thường.

Khi coi hiện tượng tội phạm là hiện tượng bình thường không có nghĩa rằng kẻ tội phạm đã thực hiện những hành động bình thường, không có nghĩa rằng kẻ tội phạm là một cá nhân có một cấu tạo bình thường về tâm lý và sinh lý.  

Theo Emile Durkheim, hiện tượng tội phạm là hiện tượng bình thường vì những lý do sau đây:

            Thứ nhất, không có xã hội nào không có tội phạm. Hiện tượng tội phạm là một hiện tượng gắn liền chặt chẽ với những điều kiện của bất kỳ đời sống tập thể nào. “Những hành vi được coi là tội phạm không phải ở xã hội nào cũng giống nhau, nhưng ở bất kỳ xã hội nào cũng có những người thực hiện hành động như thế nào đó khiến xã hội phải trừng trị về mặt hình sự”. Theo Emile Durkheim, “tội phạm là hành vi xúc phạm đến một số xúc cảm tập thể”[sentiments collectifs]. Như vậy có nghĩa rằng một hành vi có được coi là tội phạm hay không, điều đó phụ thuộc vào xúc cảm tập thể – vốn được bảo vệ bởi một dân tộc vào một giai đoạn nào đó trong lịch sử. Những dân tộc khác nhau, ở những giai đoạn lịch sử khác nhau thì sẽ hình thành nên những “xúc cảm tập thể” khác nhau. Trong đời sống xã hội thì một điều chắc chắn rằng “xúc cảm tập thể” không bao giờ biến mất. Và cũng có nghĩa rằng tội phạm không thể biến mất mà chỉ thay đổi hình thức mà thôi. Chẳng hạn cùng một hành vi nhưng ở xã hội này thì bị coi là hành vi khiếm nhã nhưng ở xã hội khác thì lại là hành vi tội phạm và ngược lại. “Bạn hãy thử tưởng tượng một xã hội bao gồm toàn là thánh nhân, một tu viện mẫu mực và hoàn hảo. Ở đó sẽ không bao giờ có những hành vi tội phạm đúng nghĩa; nhưng  những cái lỗi nhẹ dưới mắt người phàm tục sẽ làm dấy lên trong đấy những vụ xì-căng-đan tương tự như hành vi phạm pháp thông thường đối với những người dân thường [ở ngoài đời]

Đến đây, chúng ta có thể đặt câu hỏi: Có khi nào xúc cảm tập thể  đủ mạnh để ngăn ngừa mọi bất đồng, có khi nào ý thức đạo đức có thể ngăn chặn bất kỳ hành động nào xúc phạm tới xúc cảm tập thể, kể cả những lỗi lầm thuần túy đạo đức lẫn những hành vi tội phạm? Bởi vì, nếu muốn làm cho những hành vi được mệnh danh là tội phạm, trong một xã hội nhất định, không còn diễn ra nữa, thì người ta phải làm sao cho những xúc cảm mà chúng [tội phạm] làm tổn thương hiện diện trong tất cả mọi cá nhân, không loại trừ ai và với cường độ cần thiết để có thể chế ngự được xúc cảm đối nghịch. Emile Durkheim trả lời rằng điều đó hoàn toàn không thể xảy ra vì mỗi một cá nhân có những đặc điểm tự nhiên và xã hội hoàn toàn khác nhau . Ông cho rằng “Không có xã hội nào trong đó các cá nhân không khác biệt ít nhiều so với các mẫu hình tập thể, nên không thể tránh khỏi tình trạng là, trong số những khác biệt ấy, có một số mang tính chất tội phạm”. Như trên chúng ta đã nói, một hành vi được coi là phạm tội hay không, điều đó phụ thuộc vào xúc cảm tập thể. “Cái làm nên tính chất tội phạm không phải nằm ở chính hành vi mà do ý thức chung khoác cho chúng cái tính chất ấy”. Do đó, nếu ý thức chung này mạnh hơn, nếu nó có đủ sức mạnh để làm cho những khác biệt ấy trở nên yếu ớt xét về giá trị tuyệt đối thì nó cũng sẽ trở nên nhạy cảm hơn, khắt khe hơn, và khi đó dù những hành vi sai lệch có nhỏ thì ý thức chung cũng phản ứng lại nó như là phản ứng lại với những hành vi sai lạc lớn lao, nghĩa là những hành vi lệch lạc nhỏ ấy sẽ trở thành hành vi phạm tội. Và như vậy, “ Hành vi tội phạm chỉ thay đổi về hình thức mà thôi; bởi lẽ chính cái nguyên nhân vốn có thể làm cạn kiệt các nguồn gốc của hiện tượng tội phạm, cũng có thể tạo ra ngay lập tức những nguồn gốc mới của hiện tượng tội phạm

Thứ hai, hiện tượng tội phạm là một bộ phận thiết thân của bất kỳ một xã hội lành mạnh nào. Xã hội học Emile Durkheim luôn nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể mà mỗi bộ phận đều có chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể đó với tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định, bền vững. Theo đó, xã hội tồn tại và phát triển được nhờ các thành viên chia sẻ những giá trị, chuẩn mực chung trong xã hội mà dẫn tới thống nhất xã hội. Trong xã hội đó, con người bị chế ước bởi những giá trị chuẩn mực. Nhưng nếu con người mất định hướng giá trị thì con người dễ rơi vào trạng thái khủng hoảng mà dẫn tới hành vi sai lệch. Và do đó, sự rối loạn xã hội là nguyên nhân chính dẫn tới hành vi sai lệch nói chung và tội phạm nói riêng. Thuật ngữ “rối loạn xã hội” biểu hiện một trạng thái xã hội khi mà những giá trị văn hóa chuẩn mực và mối liên hệ xã hội bị vắng bóng hoặc yếu đi hoặc mâu thuẫn với nhau.

Nếu như xem xét xã hội với tư cách là một cơ thể sống thì có thể xem hiện tượng tội phạm như là một nhân tố của tình trạng sức khỏe xã hội, là một bộ phận thiết thân của bất kỳ một xã hội lành mạnh nào. Ông viết “ Nếu coi tội phạm như một căn bệnh xã hội, thì như vậy đã thừa nhận rằng, bệnh tật không phải là một cái gì ngẫu nhiên, mà ngược lại trong một số trường hợp, nó bắt nguồn từ chính cấu tạo căn bản của sinh vật”.

Như vậy khi nói hiện tượng tội phạm là hiện tượng bình thường, điều đó có nghĩa rằng hiện tượng tội phạm là một hiện tượng không thể tránh khỏi của bất kỳ một xã hội nào cũng như nó là một nhân tố của tình trạng sức khỏe xã hội.

Như trên đã trình bày, quan điểm của Emile Durkheim về hiện tượng tội phạm được trình bày trong cuốn “Những quy tắc của phương pháp xã hội học” như là một ví dụ minh họa, do đó, sau khi chúng ta tìm hiểu về hiện tượng tội phạm, chúng ta cũng có thể rút ra được quy tắc phương pháp xã hội học mà ông đang muốn nói tới. Đó là tính phổ biến phải được coi là tiêu chuẩn của tính bình thường của các hiện tượng.

Tuy nhiên hiện tượng tội phạm sẽ mạng tính chất bệnh hoạn khi mà tỷ lệ tội phạm đạt tới mức quá cao – được xác định tùy theo mỗi loại hình xã hội.

2. Hiện tượng tội phạm là cần thiếtcó ích

            Sau khi Emile Durkheim giải thích hiện tượng tội phạm là một hiện tượng bình thường, ông đưa ra một cách nhìn mới về tội phạm “Vì thế tội phạm là hiện tượng cần thiết, nó gắn liền với những điều kiện căn bản của mọi dời sống xã hội, những cũng do vậy, nó có ích [utile]; bởi lẽ chính những điều kiện vốn gắn liền với nó cũng cần thiết cho sự tiến hóa bình thường của đạo đức và luật pháp”.

            Tới đây, có thể nhiều người phản đối, bởi hiển hình hay ẩn hình, đã là tội, không có tội nào là không nghiêm trọng, khác chăng là tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hại cho xã hội mà có biện pháp xử lý thích hợp. Hiện tượng tội phạm là một hiện tượng đi ngược lại với sự phát triển của xã hội. Người có hành vi phạm tội phải bị trừng phạt, bị cách ly khỏi cộng đồng, thậm chí bị loại bỏ (tử hình). Tuy nhiên nếu xem xét hiện tượng tội phạm theo quan điểm chức năng luận thì hiện tượng tội phạm “cần thiết” và “có ích” cho xã hội.

            Chức năng là nhu cầu, lợi ích, sự cần thiết, sự đòi hỏi, hệ quả, tác dụng mà một thành phần, bộ phận tạo ra hay thực hiện để đảm bảo sự tồn tại, vận động của cả hệ thống. Đây là khái niệm cơ bản của xã hội học được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Emile Durkheim coi chức năng như là các nhu cầu chung của cơ thể xã hội và bất kỳ một sự kiện xã hội nào cũng có những chức năng nhất định, tức là có sự đáp ứng nhu cầu nhất định của xã hội.

            Xã hội dù có đa dạng và phức tạp tới đâu thì cũng tồn tại một hệ thống chuẩn mực xã hội. Luật pháp và đạo đức không chỉ khác nhau ở các loại hình xã hội khác nhau mà ngay ở trong một loại hình xã hội thì luật pháp cũng sẽ thay đổi nếu các điều kiện xã hội thay đổi. Nhưng để cho luật pháp và đạo đức thay đổi thì xúc cảm tập thể  chỉ cần một sức mạnh vừa phải.

 “Muốn cho ý thức đạo đức có thể tiến hóa, thì cần phải để cho tính độc đáo của cá nhân có cơ hội xuất đầu, lộ diện; muốn cho tính độc đáo của người viển vông thường mơ mộng rằng mình có thể vượt lên trên thế kỷ mình đang sống có thể được bày tỏ ra, thì tính độc đáo của kẻ phạm tội, vốn nằm bên dưới thời đại của hắn, cũng phải có khả năng được bày tỏ. Không thể có cái nọ mà không có cái kia”.

            Hành vi phạm tội không chỉ nói lên rằng sự thay đổi sẽ diễn ra, mà trong một số trường hợp, nó còn trực tiếp chuẩn bị cho những thay đổi ấy. Trong xã hội, nếu có hiện tượng tội phạm thì tức là xúc cảm tập thể trong tình trạng mềm dẻo cần thiết để có sự thay đổi, để có thể chuyển sang hình thức mới. Nhưng đôi khi hiện tượng tội phạm còn góp phần vào việc xác định trước hình thức mà xúc cảm tập thể sẽ chuyển sang.  Emile Durkheim đưa ra ví dụ Socrate bị kết án theo luật Athènes; các nhà triết học tự do bị kết án bởi các nhà cầm quyền thế tục trong suốt thời trung cổ vì những tư tưởng xúc phạm tới những xúc cảm đang còn nóng bỏng trong phần lớn ý thức [cá nhân]. Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh, những hành vi phạm tội đó, mà cụ thể là sự độc lập tư tưởng, là có ích cho xã hội. Bởi lẽ họ đã có công chuẩn bị một thứ đạo đức mới và một lòng tin mới mà đa số người dân trong xã hội thời kỳ bấy giờ đang cần.

Khi tòa án và nhà tù xuất hiện trừng phạt các hành vi tội phạm [vi phạm chuẩn mực xã hội] – tức là thỏa mãn các nhu cầu của số đông [xúc cảm tập thể], khi đó các cá nhân cảm thấy gắn bó với nhau hơn, mức độ đoàn kết xã hội được tăng cường hơn.

            Có thể nói, hiện tượng tội phạm như là một nhịp để điều chỉnh xã hội, tăng cường mức độ đoàn kết xã hội, củng cố trật tự xã hội, khẳng định lại hệ thống quy tắc xã hội. “Hành vi tội phạm là có ích vì nó mào đầu cho những biến chuyển vốn ngày càng trở nên tất yếu”.

3. Lý thuyết về hình phạt

            Lý thuyết về hình phạt, theo Emile Durkheim, do vậy cần phải được đổi mới.

Trái ngược lại với những suy nghĩ thông thường, [ở đây], kẻ tội phạm không còn là một kẻ hoàn toàn không thể sống đựợc với người khác, giống như một thứ phần tử ăn bám, một thành phần xa lạ và không thể hòa đồng; đó là một tác nhân bình thường trong đời sống xã hội

            Ông cho rằng, sự trừng phạt  không chỉ có chức năng đòi đền bù hay trả thù đối với những thiệt hại do tội phạm gây ra mà còn có chức năng duy trì trạng thái đồng thuận, nhất trí cao của cộng đồng xã hội trước một sự kiện xã hội xảy ra.

Tuy nhiên trong phần chú thích, Emile Durkheim cũng nhấn mạnh điều này không có nghĩa rằng chúng ta không được thù ghét hành vi tội phạm. Ông liên hệ hiện tượng tội phạm với sự đau đớn khi các cá nhân bị bệnh tật. Không ai mong muốn sự đau đớn và ghét sự đau đớn cũng như xã hội ghét hành vi tội phạm, nhưng dù có ghét như thế nào đi chăng nữa thì sự đau đớn cũng xuất phát từ cấu tạo sinh lý học bình thường.

            Nếu tội phạm là một thứ bệnh tật thì phải hiểu hình phạt là một phương thuốc. Và các nhà quản lý xã hội phải đóng vai trò giống như một bác sỹ: ngăn ngừa bệnh tật bằng một phương pháp bảo vệ sức khỏe thật tốt và khi bệnh tật phát thì phải tìm cách chữa trị nó.

            “Người ta sẽ phải làm việc với một sự kiên trì đều đặn để duy trì trạng thái bình thường, để vãn hồi [trạng thái bình thường] khi nó bị xáo trộn, để tìm lại những điều kiện [của trạng thái bình thường] nếu chúng bị thay đổi”.

4. Bình luận

            Mặc dù Emile Durkheim trình bày những quan điểm về hiện tượng tội phạm  như một ví dụ minh họa cho phương pháp phân biệt hiện tượng bình thường với những hiện tượng được xem là sai lệch những những tư tưởng của ông về hiện tượng tội phạm vẫn còn nguyên giá trị cho những nghiên cứu xã hội học nói chung và nghiên cứu các lĩnh vực của chuyên ngành xã hội học pháp quyền nói riêng.

Thứ  nhất, những lập luận của Emile Durkheim khi trình bày về hiện tượng tội phạm đã chứng minh cho chúng ta quy tắc phân biệt cái bình thường với cái sai lệch của phương pháp nghiên cứu xã hội học. Quy tắc này đòi hỏi nhà nghiên cứu xã hội học phải phân biệt được cái chuẩn mực, cái “bình thường” với cái dị biệt, cái “không bình thường”. Theo Emile Durkheim, cách tốt nhất để xác định cái chuẩn mực, cái bình thường là phát hiện ra cái thường gặp, cái chung, cái của số đông, cái “trung bình”, cái điển hình của xã hội cụ thể trong giai đoạn phát triển lịch sử nhất định. Căn cứ vào đó, có thể coi tất cả những gì lệch lạc so với chuẩn mực, những gì khác so với cái chung là cái dị biệt, là không bình thường, là bất thường, thậm chí là các  tệ  nạn, bệnh tật xã hội.

Thứ hai, những quan điểm của Emile Durkheim đã cho chúng ta một cách tiếp cận về hiện tượng tội phạm: khái niệm tội phạm; chức năng của hiện tượng tội phạm và lý thuyết về hình phạt.

Trong bài viết này, tôi xin có một số ý kiến bình luận quan điểm của Emile Durkheim  về hiện tượng tội phạm  như sau:

            *1, Emile Durkheim cho rằng “ Không có xã hội nào không có tội phạm” . Điều này có thể gây ra tranh luận. Bởi, theo lý thuyết hình thái kinh tế xã hội của Karl Marx thì lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử thay thế kế tiếp các hình thái kinh tế xã hội. Trong năm hình thái kinh tế xã hội mà xã hội loài người trải qua thì ở xã hội cộng sản nguyên thủy và xã hội cộng sản chủ nghĩa không có Nhà nước. Khi đó sẽ không có luật pháp và cũng chẳng có tội phạm. Như vậy, người ta có thể nghi ngờ luận điểm này của Emile Durkheim.

            Theo chúng tôi, có lẽ Emile Durkheim muốn nói tới trong thời kỳ mà ông đang sống, không có một xã hội nào không có tội phạm, không có một quốc gia nào không phải đương đầu với những hiện tượng tội phạm. Hiểu như vậy, có thể tránh được các tranh luận.

            *2, Trong những luận điểm của Emile Durkheim về hiện tượng tội phạm không có sự giải thích về nguyên nhân của hiện tượng tội phạm.  Ông cũng chưa đề cập tới mối liên hệ giữa cấu trúc xã hội và hiện tượng tội phạm, ví dụ ở những xã hội như thế nào thì sẽ xuất hiện các loại tội phạm ra sao?

*3, Emile Durkheim nhấn mạnh hiện tượng tội phạm là một hiện tượng bình thường và đã chưa đưa ra được trong những điều kiện xã hội như thế nào thì tỷ lệ tội phạm quá cao, khi nào hiện tượng tội phạm sẽ trở nên bất bình thường. Đây cũng là một trong những nhược điểm  của chủ nghĩa chức năng: quá chú trọng tới trạng thái ổn định, cân bằng của xã hội mà không chú ý tới sự biến đổi xã hội.

*4, Trong tác phẩm “Những quy tắc của phương pháp xã hội học”, Emile Durkheim đã rất nhấn mạnh quy tắc cần phân biệt nguyên nhân của hiện tượng với chức năng mà hiện tượng đó thực hiện.

Tuy nhiên, qua cách giải thích của Emile Durkheim, chúng ta thấy, ông đã lấy chức năng của hiện tượng tội phạm để giải thích cho hiện tượng tội phạm. Điều này có thể dẫn tới quan niệm sai lầm là lấy hệ quả của hiện tượng để giải thích cho hiện tượng.

5. Một vài minh họa

            Có thể thấy quan điểm của Emile Durkheim về hiện tượng tội phạm được vận dụng rất nhiều trong thực tiễn và những luận điểm của ông về tội phạm đã thể hiện tính đúng đắn qua thực tiễn. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ xin bước đầu đưa ra một vài ví dụ minh họa cho một số nội dung quan điểm của Emile Durkheim về hiện tượng tội phạm. 

Minh họa 1. Thế nào là tội phạm?

            Như trên đã trình bày, Emile Durkheim cho rằng “tội phạm là hành vi xúc phạm đến một số xúc cảm tập thể”[sentiments collectifs]. Như vậy có nghĩa rằng một hành vi có được coi là phạm tội hay không, điều đó phụ thuộc vào xúc cảm tập thể – vốn được bảo vệ bởi một dân tộc vào một giai đoạn nào đó trong lịch sử.

            Luận điểm trên của Emile Durkheim được minh họa rất rõ bởi các loại tội phạm liên quan tới mại dâm, cờ bạc. Lấy ví dụ về mại dâm, chúng ta thấy mại dâm là mặt trái của đời sống xã hội và ở xã hội nào cũng tồn tại hiện tượng này. Có những quốc gia coi mại dâm là hiện tượng tội phạm, nhưng cũng có nhiều nước, họ quy định muốn kinh doanh mại dâm thì đăng ký và tổ chức khám bệnh định kỳ để việc kinh doanh đó không gây ảnh hưởng xấu tới xã hội. Ở Việt Nam cũng có một số chuyên gia pháp luật căn cứ vào tỷ lệ  tái phạm cho rằng các hành vi liên quan tới mại dâm không nên hình sự hóa nữa. Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Đình Lộc – nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp thì “ Ở Việt Nam muốn bỏ tội mại dâm còn phải xem xét tâm lý xã hội thế nào đã” (Báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh, số ra ngày 20/4/2005). Như vậy, rõ ràng hành vi mại dâm có phải là tội phạm hay không phụ thuộc vào “xúc cảm tập thể”. Tương tự, đối với những hành vi liên quan tới đánh bạc, chúng ta thấy, xổ số, “cá cược” hàng ngày vẫn được công khai trên truyền hình, nhưng việc chơi bài ăn tiền và tổ chức chơi bài ăn tiền lại bị coi là hình sự. Có thể vận dụng theo quan điểm của Emile Durkheim để giải thích vấn đề này rằng, việc đánh bài ăn tiền gây ra nhiều hậu quả xã hội, làm tan nát nhiều gia đình. Do đó tâm lý xã hội phẫn nộ đối với những hành vi như vậy, cho rằng như thế là không thể tha thứ được, phải nghiêm khắc với nó. Và cần có hình phạt để ngăn chặn.

            Minh họa  2. Hiện tượng tội phạm là cần thiếtcó ích

            Để minh họa cho luận điểm này, chúng tôi xin đưa ra ví dụ về hành vi tham nhũng. Khi vụ án xảy ra tại Ban quản lý các dự án 18 (PMU18), Bộ Giao thông vận tải được công khai trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tâm lý xã hội vô cùng phẫn nộ trước những hành vi tham nhũng và lo lắng cho tương lai của đất nước. Trên các phương tiện thông tin đại chúng đã có rất nhiều ý kiến khác nhau về vụ việc PMU18. Một số những ý kiến đã ẩn chứa quan điểm của Emile Durkheim khi cho rằng hiện tượng tội phạm là “cần thiết” và “có ích”. Chúng tôi xin trích dẫn một số ý kiến sau:

            “Vụ việc PMU18 xảy ra trước Đại hội X là không vui những là may mắn. May mắn là từ thực tế để Đảng thấy Đảng vẫn có những nơi như thế đấy: tê liệt, hư hỏng. Đó là cơ hội để Đảng nhìn rõ Đảng của mình hơn, xem lại Đảng đang như thế nào, đang là gì… Tôi cho rằng biến cái xấu thành cái tôt là điều rất biện chứng. Nếu Đảng đặt vấn đề này đúng mức, đúng lúc thì sẽ nâng cao một bước chất lượng Đại hội.” (Đại tướng Chu Huy Mân, Những ý kiến tâm huyết …,Báo Pháp luật Việt Nam, số ra ngày 18/4/2006).

            “Một ông Thứ trưởng chạy chức, thiết nghĩ, nên là cú hích để nhìn lại toàn bộ công tác tổ chức cán bộ cũng như quy trình đề bạt, bổ nhiệm. Vấn đề sinh tử của cách mạng là vấn đề cán bộ, còn để nạn chạy chức, chạy quyền lộng hành thì không thể nói gì đến phát triển lành mạnh và bền vững” ( Chí Công, Chạy chức, Báo Pháp luật Việt Nam, số ra ngày 12/4/2006).

            Tuy nhiên, hiện tượng tham nhũng tồn tại ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, hiện tượng này cũng đã có từ rất lâu. Theo quan điểm của Emile Durkheim, có thể nói hiện tượng tham nhũng là một hiện tượng bình thường. Có điều, các nhà quản lý xã hội phải đóng vai trò giống như một bác sỹ: ngăn ngừa bệnh tật bằng một phương pháp bảo vệ sức khỏe thật tốt và khi bệnh tật phát thì phải tìm cách chữa trị nó.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: