LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC- BƯỚC PHÁT TRIỂN CỦA QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

(Bài đã đăng Báo ĐLăk- ở đây)
   Ngày 01 tháng 01 năm 2010 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực thi hành (Luật đã được Quốc hội Khóa XII thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2009) đã đánh dấu một bước phát triển mới của quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Với sự ra đời của Luật này, kể từ nay, người dân có một đạo luật quy định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong nhiều lĩnh vực, tạo cơ chế pháp lý mới, đồng bộ, hiệu quả để người bị thiệt hại thực hiện tốt hơn quyền được bồi thường của mình đối với những thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra.

Việc ban hành Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng là nhằm thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Một trong các nội dung quan trọng về định hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật được quy định trong Nghị quyết này là xây dựng và hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, trong đó có quyền được bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra khi thi hành công vụ. Trước khi có Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, vấn đề bồi thường nhà nước cũng đã được ghi nhận tại một số điều của Hiến pháp 1992 và Bộ luật Dân sự. Để cụ thể hóa các quy định này, Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định số 47/CP ngày 03 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra, Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17 tháng 3 năm 2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Tuy nhiên, các quy định này còn có nhiều hạn chế, bất cập như: hình thức văn bản quy phạm pháp luật quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra có hiệu lực pháp lý không cao; trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra chưa được xây dựng trên quan điểm coi đây là trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nói chung mà chỉ coi là trách nhiệm bồi thường của từng cơ quan nhà nước cụ thể (cơ quan quản lý người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại); cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường trong nhiều trường hợp chưa được xác định rõ và đặc biệt là chưa quy định cụ thể trách nhiệm phối hợp của các cơ quan nhà nước khác có liên quan, nên việc giải quyết bồi thường không đạt được kết quả như mong muốn; các loại thiệt hại được bồi thường, mức bồi thường và nhiều vấn đề liên quan khác được pháp luật quy định không thống nhất, chưa hợp lý, gây bất lợi cho cả cơ quan giải quyết bồi thường lẫn người bị thiệt hại; trách nhiệm hoàn trả của công chức chưa được quy định rõ ràng… Chính vì vậy, để khắc phục những hạn chế này, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã quy định rất cụ thể, chi tiết việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường.

Về nguyên tắc, cơ quan có trách nhiệm bồi thường được xác định là cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại (Điều 14). Đây cũng là một trong những điểm quan trọng của Luật là: mặc dù thiệt hại do cá nhân người thi hành công vụ gây ra, nhưng trách nhiệm bồi thường là trách nhiệm của Nhà nước. Tiền bồi thường được chi từ ngân sách nhà nước, cá nhân người vi phạm phải chịu hoàn lại cho Nhà nước phần tiền đã bồi thường.  Việc xác định rõ trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại, một mặt, tạo thuận lợi cho người bị thiệt hại trong việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình, mặt khác, góp phần tăng cường trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, của công chức trong quá trình thực thi công vụ.

Việc Quốc hội ban hành Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là một sự kiện quan trọng, có ý nghĩa sâu sắc trong việc khẳng định chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện các mục tiêu xây dựng Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, đồng thời góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm trong thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: